Vảy nến là một bệnh da mạn tính do viêm và chưa thể chữa khỏi hoàn toàn. Bệnh khá phổ biến, chiếm khoảng 1-2% dân số Việt Nam, và từ 5-7% tổng số bệnh nhân da liễu đến khám tại các cơ sở y tế. Việc điều trị vảy nến gặp nhiều khó khăn bởi nguyên nhân do gen khiến bệnh kháng thuốc hoặc dễ tái phát sau điều trị. Đông y được xem là tối ưu hơn so với các phương pháp y học hiện đại bởi thuốc có thể sử dụng lâu dài mà không gây tác dụng phụ cho cơ thể. Tuy nhiên bệnh nhân mắc vảy nến vẫn cần tìm hiểu kỹ các nguồn thông tin để lựa chọn loại thuốc Đông y điều trị vảy nến hiệu quả nhất và an toàn cho bản thân.

 thuoc-dong-y-chua-benh-vay-nen-hieu-qua-nhat-hien-nay1

Vảy nến ở cánh tay mức độ nhẹ (Ảnh minh hoạ)

Các yếu tố liên quan và cơ chế hình thành vảy nến

Có hai kiểu bệnh rõ ràng trong vẩy nến: kiểu khởi phát sớm và kiểu khởi phát muộn. Vẩy nến khởi phát sớm thường gặp ở độ tuổi 16-22. Loại này có diễn tiến bất ổn và khuynh hướng lan rộng toàn thân, rất khó điều trị về dễ tiến triển nặng. Loại này có liên quan mạnh đến tính di truyền. Trái lại, vẩy nến khởi phát muộn thường gặp ở độ tuổi 57-60. Loại này thường nhẹ và khu trú. Loại này thường ít có liên quan mạnh với tính di truyền như loại khởi phát sớm. Do đặc điểm này mà nguyên nhân gây nên vảy nến vẫn còn nhiều điều chưa thể sáng tỏ hoàn toàn.

Người ta mới chỉ khẳng định được là do “lỗi” xảy ra ở gen nằm trên nhiễm sắc thể số 6, và dưới tác động của nhiều yếu tố, cả nội sinh lẫn ngoại sinh, mà gen này được kích hoạt, dẫn đến tình trạng tăng sinh tế bào biểu bì, sinh ra vảy nến.

thuoc-dong-y-chua-benh-vay-nen-hieu-qua-nhat-hien-nay

Gen số 6 là nguyên nhân gây nên bệnh vảy nến (Ảnh minh hoạ)

Ngoài ra một số yếu tố có ảnh hưởng, kích thích và làm bệnh tiến triển nặng thêm cũng được đề cập đến như:

  • Căng thẳng thần kinh (stress) liên quan đến phát bệnh và vượng bệnh, bệnh nhân bị vẩy nến thuộc típ thần kinh dễ bị kích thích, hay lo lắng…
  • Yếu tố nhiễm khuẩn: vai trò các ổ nhiễm khuẩn khu trú liên quan tới quá trình phát sinh và phát triển bệnh vẩy nến (viêm mũi họng, viêm amidal,…), mà chủ yếu là vai trò của liên cầu. Vai trò của vi rut, vi rut ARN có men sao mã ngược tạo phức hợp miễn dịch bất thường còn chưa được thống nhất.
  • Chấn thương cơ học vật lý: có vai trò trong sự xuất hiện bệnh (14%).
  • Rối loạn chuyển hoá.cho là có rối loạn chuyển hoá đường,đạm.
  • Rối loạn nội tiết: bệnh thường nhẹ khi có mang nhưng sau đẻ bệnh lại tái phát hoặc nặng hơn.
  • Rối loạn chuyển hoá trên da: chỉ số sử dụng oxy của da vẩy nến tăng cao rõ rệt, có khi hơn 400% so với da bình thường. Bình thường chu chuyển tế bào thượng bì là 20- 27 ngày nhưng ở da vẩy nến chu chuyển này rút ngắn chỉ còn 2- 4 ngày.

➡ Cần biết: Uống nhiều bia dễ mắc bệnh vảy nến

Các thể bệnh vảy nến và mức độ tổn thương

Tùy theo tính chất, đặc điểm lâm sàng, người ta chia vẩy nến làm 2 thể chính: Thể thông thường và thể đặc biệt. Trong thể thông thường: dựa vào kích thước, vị trí của thương tổn da, người ta phân làm các thể như: Thể giọt, thể đồng tiền, thể mảng, vẩy nến ở đầu, vẩy nến đảo ngược, … Thể đặc biệt ít gặp hơn nhưng nặng và khó điều trị hơn như Vẩy nến thể mủ, vẩy nến thể móng khớp, vẩy nến thể đỏ da toàn thân.

Các dấu hiệu lâm sàng khác giúp bệnh nhân dễ dàng nhận biết bệnh vảy nến đó là các thưởng tổn tại nhiều vùng khác nhau trên cơ thể.

Thương tổn da: Hay gặp và điển hình nhất là các dát đỏ có vẩy trắng phủ trên bề mặt, vẩy dày, có nhiều lớp xếp chồng lên nhau rất dễ bong và giống như giọt nến (Vì vậy có tên gọi là “Vẩy nến”). Kích thước thương tổn to nhỏ khác nhau với đường kính từ 1- 20 cm hoặc lớn hơn. Vị trí điển hình nhất của các dát đỏ có vẩy là vùng tì đè, hay cọ xát như: khuỷu tay, đầu gối, rìa tóc, vùng xương cùng, mông. Tuy nhiên sau một thời gian tiến triển các thương tổn có thể lan ra toàn thân.

Thương tổn móng: Có khoảng 30% – 40% bệnh nhân vẩy nến bị tổn thương móng tay, móng chân. Các móng ngả màu vàng đục, có các chấm lỗ rỗ trên bề mặt. Có thể móng dày, dễ mủn hoặc mất cả móng.

Thương tổn khớp: Tỷ lệ khớp bị thương tổn trong vẩy nến tùy từng thể. Thể nhẹ, thương tổn da khu trú, chỉ có khoảng 2% bệnh nhân có biểu hiện khớp. Trong khi đó ở thể nặng, dai dẳng có đến 20% bệnh nhân có thương tổn khớp. Biểu hiện hay gặp nhất là viêm khớp mạn tính, biến dạng khớp, cứng khớp, lệch khớp, bệnh nhân cử động đi lại rất khó khăn … Một số bệnh nhân thương tổn da rất ít nhưng biểu hiện ở khớp rất nặng, đặc biệt là khớp gối và cột sống.

Các phương pháp điều trị bệnh vảy nến

Y học hiện đại tập trung ngăn cản các phản ứng hoá học xảy ra trong cơ chế sinh bệnh

Mục tiêu điều trị vảy nến trong Y học hiện đại phần lớn tập trung vào việc làm sạch tổn thương và kéo dài thời gian tái phát. Yếu tố an toàn, lành tính cũng luôn được đề cao song thực tế cho thấy thuốc dùng trong điều trị vảy nến của y học hiện đại chưa thực sự làm được điều này.

Dựa vào tuổi, dạng lâm sàng, vị trí nhiễm bệnh và tốc độ lan toả của bệnh mà bác sĩ chuyên khoa sẽ chỉ định các phương pháp điều trị thích hợp. Đối với các trường hợp vảy nến ở mức độ nhẹ và trung bình thì sẽ dùng các loại thuốc điều trị tại chỗ, áp dụng thuốc điều trị hệ thống và kết hợp trị liệu đối với các trường hợp nặng và tái phát với tần suất dày đặc.

Thuốc điều trị vảy nến tại chỗ thường là Corticoisteroid, Calcipotriene, Anthralin, Tar, Acid salicylic, Tazarotene… Mỗi một loại dược chất này đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, sử dụng trong thời gian ngắn cơ thể vẫn có thể đáp ứng và cho hiệu quả điều trị tốt. Song nếu dùng trong thời gian dài thì sẽ phản tác dụng và có thể gây ra một số biến chứng nguy hiểm khác như gây kích ứng da, teo da, giãn mạch, ức chế thượng thận, tăng canxi máu, nhuộm màu da, có thể sinh quái thai,…

Thuốc điều trị hệ thống được hiểu là tác dụng lên toàn thân, tác động vào các quá trình chuyển hoá chất, ngăn chặn tăng sinh tế bào biểu bì đồng thời làm giảm các triệu chứng lâm sàng trên da nhanh chóng. Thuốc dùng trong giai đoạn này đều là các loại có nồng độ dược chất cao, tác động mạnh vào sâu bên trong tất cả các chức năng hoạt động của cơ thể. Vì vậy việc theo sát điều trị phải hết sức thận trọng và phòng ngừa các trường hợp biến chứng có thể xảy ra. Các thế hệ thuốc mới điều trị vảy nến đã phần nào hạn chế được các tác dụng phụ không mong muốn nhưng vẫn chưa loại bỏ hoàn toàn được chúng. Các khả năng như ảnh hưởng chức năng gan, rối loạn tiêu hoá, rối loạn chức năng thận, … vẫn hoàn toàn có thể xảy ra với tỷ lệ cao.

Trị liệu trong điều trị vảy nến thường là quang trị liệu, dùng tia UVB hoặc PUVA, cho hiệu quả khỏi bệnh nhanh và kéo dài, sạch thương tổn cao. Tuy nhiên những tia này rất có hại cho da, khiến da có thể lão hoá sớm và tăng khả năng ung thư da. Vì vậy chúng rất hạn chế được thực hiện hoặc phải được thực hiện bởi bác sĩ trình độ cao.

Y học cổ truyền hướng tới ngăn ngừa bệnh tái phát nhờ khả năng miễn dịch tự nhiên

Y học cổ truyền cũng không khẳng định việc có thể điều trị khỏi hoàn toàn vảy nến tuy nhiên cơ chế điều trị của y học cổ truyền có phần vượt trội hơn so với y học hiện đại ở việc đảm bảo hiệu quả điều trị là ổn định bệnh lâu dài mà vẫn an toàn cho sức khoẻ chung của cơ thể.

Trong y học cổ truyền, vảy nến được chia thành 9 loại dựa trên biểu hiện lâm sàng của tổn thương cùng những biến đổi cụ thể về khí sắc tại các bộ phận khác trên cơ thể và mạch đập để chẩn đoán. 9 thể bệnh bao gồm: thể phong nhiệt, thể phong huyết táo, thể phong hàn, thể thấp nhiệt, thể huyết nhiệt, thể huyết ứ, thể huyết hư, mạch xung nhâm không điều hoà, nhiệt độc thương doanh. Một khi nguyên nhân được xác định chính xác, các đơn thuốc sẽ được bác sĩ chuyên khoa kê, kết hợp nhiều thành phần thảo dược khác nhau nhằm giải quyết vấn đề mà cơ thể người bệnh đang gặp phải. Thanh nhiệt, lương huyết, khu phong, nhuận táo, sơ phong, điều doanh,… các pháp điều trị đều hướng tới mục đích bình ổn trạng thái của cơ thể, tăng sức đề kháng từ đó ngăn chặn các phản ứng bất lợi xảy ra với sức khoẻ từ bên trong. Đồng thời sự đề kháng tự nhiên này hiển nhiên giúp người bệnh có thể chống lại những tác động tiêu cực mà các yếu tố ngoại nhân có thể tác động đến cơ thể, giảm tối đa khả năng chúng gây kích thích tới gen nhiễm bệnh khiến bệnh khởi phát.

Về hiệu quả điều trị, thực chất các thảo dược trong y học cổ truyền đem lại công dụng không kém phần so với các loại tân dược. Trong thành phần của chúng vẫn chứa những hàm lượng dược chất nhất định, khi được phối đủ cân lượng sẽ phát huy công dụng ở mức tối đa. Cùng với đó, kết cấu tự nhiên của thảo dược hài hoà giữa tính độc và không độc, các vị lại được kết hợp, hỗ trợ, bù trừ cho nhau khiến độc tố ảnh hưởng đến cơ thể con người gần như bằng 0. Đấy chính là yếu tố thuận lợi và tích cực nhất mà bệnh nhân vảy nến hướng tới khi lựa chọn điều trị y học cổ truyền thay vì y học hiện đại.

Bài thuốc “Thanh bì dưỡng can thang” – khắc tinh của bệnh vảy nến

2-bai-thuoc-chau-viem-amidan-bang-dong-y

Thuốc đặc trị bệnh vẩy nến, á sừng – Thanh bì Dưỡng can thang

“Thanh bì dưỡng can thang” được xem là bài thuốc Nam “khắc tinh” của vảy nến. Thuốc gồm 3 bài thuốc nhỏ, tác động toàn diện lên các tổn thương do vảy nến gây ra cả trong và ngoài cơ thể.

Thuốc ngâm rửa:

Với các thành phần trầu không, ích nhĩ tử, ô liên rô, mò trắng,… thuốc tác động trực tiếp lên vùng da có vảy nến phát tác, giúp làm sạch, loại bỏ và phòng ngừa sự xâm nhập và phát triển không mong muốn của các loại vi khuẩn, virut cơ hội, tấn công da khi đang bị tổn thương. Nhờ công dụng này mà bệnh nhân cũng sẽ cảm thấy dịu cơn ngứa và vùng da bị tổn thương cũng sẽ ngưng hình thành vảy và mềm ẩm hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho da hấp thụ thuốc bôi tốt hơn.

Thuốc bôi ngoài:

Khi bạn bị vảy nến, các lớp da sẽ bị sừng hoá nhanh chóng và bị tổn thương rất sâu. Bên dưới lớp vảy nến trắng do sừng hoá là lớp da mỏng manh dễ dàng bị lột bỏ. Và bên dưới lớp da mỏng ấy bạn có thể nhìn thấy ngay vùng da đỏ, in hằn mạch máu mà cảm giác có thể nứt vỡ ra bất cứ lúc nào. Đặc biệt vào mùa đông hay khi da tiếp xúc với hoá chất, lớp da đó dễ dàng bị khô nứt và gây chảy máu. vì vậy việc sử dụng thuốc bôi ngoài là rất cần thiết nhằm hồi phục và tái tạo lớp da bảo vệ một cách nhanh chóng, tránh biến chứng nứt kẽ khiến vi khuẩn xâm nhập trực tiếp vào đường máu.

Các thành phần như Tang bạch bì, mật ong, bí đao, thiên mã hồ,…giúp da giữ được độ ẩm tự nhiên, vừa là giúp sức khoẻ làn da được cải thiện vừa ngăn chặn tối ưu quá trình tăng sinh của tế bào thượng bì. Bệnh nhờ vậy cũng đã được kiểm soát ở mức nhất định, tương đương với biện pháp điều trị tại chỗ của y học hiện đại.

Thuốc thang sắc:

Vảy nến diễn biến phức tạp trên mỗi cá thể vì vậy thuốc thang sắc uống không có một công thức chung duy nhất. Thuốc được hình thành nhờ vào sự linh động điều chỉnh của các thầy thuốc dựa trên các pháp điều trị đã được Trung tâm nghiên cứu và quy định trước đó.

Thuốc thang sắc tác động sâu hơn vào bên trong cơ thể, mang các dược chất có tác dụng kiểm soát và loại bỏ các yếu tố được xem là mẫn cảm đến từ môi trường dẫn lưu trong máu trước khi chúng kịp tác động đến hệ thống phản ứng của cơ thể. Ngoài ra, thuốc cũng hỗ trợ rất nhiều đến chức năng tâm thần, can, thận và tiêu hoá. Người bệnh sẽ cảm thấy giảm bớt được căng thẳng, hấp thụ đủ chất dinh dưỡng cần thiết để tạo nên 1 cơ thể khoẻ mạnh cả về trí và lực, có đủ khả năng phòng ngừa vảy nến phát tác.

Sau thời gian điều trị theo đúng liệu trình chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa, cộng với chế độ ăn uống nghỉ ngơi khoa học, bệnh nhân vảy nến có thể hoàn toàn yên tấm với mức thời gian duy trì kéo dài từ 5-10 năm, và mức độ bệnh sau phát tác cũng sẽ không nặng hơn so với thời điểm lần đầu mắc bệnh.

Lời khuyên chuyên gia

Vẩy nến là bệnh da mạn tính hay tái phát nhưng lành tính, chủ yếu điều trị ngoại trú, bệnh nhân cần chú ý tuân thủ phương pháp điều trị mà mình đã lựa chọn để đạt hiệu quả điều trị tối ưu nhất, tránh phụ thuộc vào thuốc. Thêm vào đó, bệnh nhân nên chú ý tránh các yếu tố nhạy cảm trong cuộc sống để bệnh khó có cơ hội thuận lợi phát triển như căng thẳng thần kinh, vi chấn thương, chất kích thích …

Trong một số trường hợp diễn biến nặng, bệnh nhân cần tuân thủ thời gian kiểm tra định kỳ để phòng ngừa bệnh tốt nhất.

➡ Xem thêm: Làm gì để sống chung với bệnh vảy nến?

Bình luận

Top